Đàn tranh là cây đàn dây gảy đặt nằm ngang, mỗi dây được đỡ bởi một con nhạn có thể xê dịch để chỉnh cao độ. Tay phải đeo móng gảy dây, còn tay trái nhấn xuống phần dây phía bên kia con nhạn để làm nốt cao lên, rung hay luyến. Chính ngón tay trái làm cho tiếng đàn tranh mềm mại và gần với giọng hát tiếng Việt.
Chào bạn, đây là Nhà Âm Nhạc. Nếu đàn bầu là cây đàn một dây thì đàn tranh là cây đàn của cả một hàng dây xếp ngay ngắn. Tập này mình nói về cấu tạo của nó, về hai bàn tay làm hai việc rất khác nhau, và vì sao cùng họ hàng với đàn của các nước láng giềng mà tiếng đàn tranh vẫn có chất riêng.
Đàn thập lục và những cây đàn nhiều dây hơn
Tên cổ của đàn tranh là đàn thập lục, tức đàn mười sáu dây. Đó là số dây truyền thống. Ngày nay, để chơi được nhiều bài và nhiều giọng hơn, người ta làm đàn tranh mười bảy, mười chín, hai mươi mốt dây và hơn nữa.
Thân đàn là một hộp gỗ dài, mặt hơi cong vồng lên. Dây căng dọc thân, mỗi dây chạy qua một con nhạn đặt trên mặt đàn. Các con nhạn xếp thành đường chéo, nhìn từ trên xuống giống một đàn chim nhạn bay, nên mới có tên như vậy.
Dây đàn ngày xưa bằng tơ, nay phần lớn là dây kim loại, tiếng sáng và vang hơn. Đoạn dây rung càng ngắn thì tiếng càng cao, càng dài thì càng trầm, nên vị trí con nhạn quyết định nốt của từng dây.
Cách lên dây thông thường theo ngũ cung, mỗi quãng tám năm dây. Đổi điệu thì xê dịch vài con nhạn, cả cây đàn đổi màu. Đây là việc người chơi làm thường xuyên giữa các bài.
Tay phải gảy: móng và ba ngón
Người chơi đàn tranh truyền thống đeo móng gảy vào ba ngón tay phải là ngón cái, ngón trỏ và ngón giữa. Móng có thể làm bằng kim loại, đồi mồi trước kia hoặc nhựa ngày nay.
Ba ngón luân phiên gảy những chuỗi nốt nhanh, gảy hai dây cách quãng tám cùng lúc, hay vuốt một lượt qua nhiều dây tạo tiếng như nước chảy. Ngón vuốt này là âm thanh mà nhiều người nhớ nhất khi nghĩ tới đàn tranh.
Vị trí gảy cũng đổi màu tiếng. Gảy sát con nhạn thì tiếng gọn và sáng hơn, gảy xa nhạn về phía giữa dây thì tiếng tròn hơn. Người chơi lâu năm dùng cả hai tuỳ câu nhạc.
Với người mới, tập đều tay ba ngón là bài học kéo dài nhiều tháng. Móng gảy đeo không vừa sẽ làm đau đầu ngón và lệch lực gảy, nên chọn móng vừa tay ngay từ đầu.
Tay trái nhấn: chỗ hồn đàn nằm
Bên kia con nhạn, phần dây còn lại không dùng để gảy. Tay trái đặt lên đó và nhấn xuống. Nhấn làm dây căng thêm, nốt vừa gảy cao lên. Một con nhạn đứng yên mà tay trái lấy ra được nhiều nốt.
Từ một động tác nhấn, người chơi có cả một bộ kỹ thuật: nhấn rồi nhả để nốt trượt lên rồi xuống, rung nhẹ liên tục cho nốt chập chờn, nhấn trước rồi mới gảy để nốt hạ xuống, hay vỗ nhẹ lên dây tạo tiếng nhấn nảy.
Những kỹ thuật này chính là cách tạo ra nốt già nốt non, những chữ nhạc cần nhấn đặc trưng trong mỗi hơi nhạc. Một bài hơi Oán mà chơi thẳng không nhấn thì nghe như đọc một câu thơ không dấu.
Vì thế nhiều người chơi đàn tranh nói tay phải tạo ra âm, tay trái tạo ra nhạc. Học viên mới thường tập tay phải nhanh, nhưng tay trái mới là thứ cần nhiều năm để nhấn đúng độ cao bằng tai.
Họ hàng với đàn của các nước láng giềng
Đàn tranh thuộc một họ đàn dây nằm ngang có nhạn di chuyển, phổ biến khắp Đông Á. Trung Quốc có đàn guzheng, Nhật Bản có đàn koto, Hàn Quốc có đàn gayageum. Chúng có chung tổ tiên xa và nhiều nét giống nhau.
Nhưng mỗi nơi phát triển theo một hướng. Đàn tranh Việt thường nhỏ và nhẹ hơn guzheng hiện đại, ít dây hơn trong truyền thống. Quan trọng hơn là cách chơi gắn với dân ca và nhạc tài tử Việt, nhấn nhá theo thanh điệu tiếng Việt.
Người nghe quen có thể phân biệt được một bản đàn tranh Việt với một bản guzheng chỉ qua vài câu, nhờ cách nhấn rung và cấu trúc giai điệu.
Điều này không có nghĩa nhạc cụ nào hơn nhạc cụ nào. Mỗi cây đàn là một cách một dân tộc nói chuyện bằng dây đàn.
Bắt đầu nghe và học đàn tranh
Để làm quen tai, bạn nên nghe vài bản độc tấu đàn tranh dựa trên dân ca quen như những bài lý, bài ru. Nghe giai điệu quen giúp bạn tập trung vào những chỗ nhấn nhá của tay trái.
Nếu muốn học, đàn tranh khá thân thiện với người mới vì gảy là ra nốt đúng ngay, không cần tìm vị trí như guitar hay violin. Những tuần đầu bạn đã chơi được những giai điệu ngũ cung đơn giản.
Phần khó đến sau, khi bắt đầu tập nhấn rung đúng cao độ và chơi các bài cổ có hơi. Lúc này một người thầy hiểu nhạc cổ truyền rất quan trọng, vì nhấn bao nhiêu là đúng hầu như chỉ học được bằng nghe và bắt chước.
Tập sau mình sang đàn nguyệt, cây đàn hai dây thùng tròn đứng ở trung tâm của cải lương và chầu văn.
Câu hỏi thường gặp
Đàn tranh mấy dây là phù hợp cho người mới?
Nhiều nơi dạy bắt đầu trên đàn mười sáu hoặc mười bảy dây vì gọn, dễ lên dây và đủ chơi phần lớn bài cơ bản. Nên hỏi thầy dạy loại đàn họ dùng để học cho đồng bộ.
Có cần đeo móng khi học đàn tranh không?
Phần lớn cách học truyền thống dùng móng ở ba ngón tay phải để tiếng sáng và đều. Người mới có thể thấy vướng vài buổi đầu, nhưng quen dần rất nhanh.
Lên dây đàn tranh có khó không?
Lên dây đàn tranh mất thời gian vì có nhiều dây, nhưng không khó về kỹ thuật. Dùng máy lên dây hoặc ứng dụng điện thoại, vặn trục và xê dịch nhạn cho tới khi đúng nốt.
Đàn tranh thường chơi trong những dịp nào?
Đàn tranh có mặt trong nhạc tài tử, nhạc cung đình, dàn nhạc dân tộc, độc tấu trên sân khấu và cả những buổi hoà nhạc kết hợp với nhạc cụ phương Tây.
Vì sao gọi là đàn tranh?
Có nhiều cách giải thích về tên gọi này và chưa có kết luận thống nhất. Tên cổ đàn thập lục thì rõ nghĩa hơn, chỉ số dây truyền thống của cây đàn.