Đàn bầu chỉ có một dây mà chơi được trọn một bài nhờ hai bàn tay làm hai việc khác nhau. Tay phải vừa gảy vừa để cạnh bàn tay chạm khẽ vào dây ở những điểm chia đều, bật ra những âm bồi trong vắt. Tay trái nắm chiếc cần đàn uốn qua uốn lại, làm dây căng hơn hay chùng hơn, nên nốt nhạc trượt lên xuống liền mạch như giọng người.
Chào bạn, đây là Nhà Âm Nhạc. Mở đầu chuyên mục nhạc cụ dân tộc, mình chọn cây đàn mà người nước ngoài hay ngạc nhiên nhất khi thấy: một hộp gỗ dài, một sợi dây, một cái cần cong, vậy mà tiếng của nó làm người nghe nhớ quê.
Cây đàn gồm những gì?
Đàn bầu còn gọi là đàn độc huyền, nghĩa là đàn một dây. Thân đàn là một hộp gỗ dài, ngày xưa có khi làm bằng ống tre lớn. Ở một đầu dựng một cái cần mềm, người chơi gọi là vòi đàn, đầu còn lại có trục để lên dây.
Sợi dây căng dọc thân đàn, một đầu buộc vào vòi. Trên vòi thường gắn một vỏ quả bầu khô hoặc một vật hình quả bầu làm bộ phận cộng hưởng, cái tên đàn bầu bắt nguồn từ đó.
Dây đàn ngày trước làm bằng tơ, ngày nay phần lớn là dây kim loại. Từ khoảng giữa thế kỷ hai mươi, nhiều cây đàn bầu được gắn bộ thu âm và nối với loa, tiếng vang xa và ngân dài hơn hẳn. Phần lớn tiếng đàn bầu bạn nghe trên sân khấu ngày nay là đàn bầu điện.
Người chơi cầm một que gảy nhỏ giữa các ngón tay phải. Que gảy nhỏ nhưng gần như toàn bộ bí mật của cây đàn nằm ở cái cách bàn tay phải đặt cạnh que gảy ấy.
Bồi âm: tiếng đàn bầu là tiếng của những âm ẩn
Ở chuyên mục nhạc cụ, mình đã nói mỗi sợi dây rung đồng thời từng nửa, từng phần ba, từng phần tư, tạo ra những âm bồi ẩn sau nốt chính. Đàn bầu làm một việc đặc biệt: nó gần như bỏ nốt chính đi và chỉ cho bồi âm vang lên.
Khi gảy, cạnh bàn tay phải chạm hờ vào dây đúng tại điểm giữa. Chỗ chạm buộc dây phải đứng yên tại đó, nên dây không rung cả chiều dài được nữa, chỉ còn rung từng nửa. Âm vang lên cao hơn âm gốc một quãng tám, trong và mảnh như tiếng chuông nhỏ.
Chạm tại một phần ba chiều dài dây, bồi âm cao hơn nữa. Chạm tại một phần tư, cao hơn nữa. Trên mặt đàn thường có những dấu nhỏ đánh vị trí các điểm chạm này. Người chơi nhảy qua lại giữa các điểm để có các nốt khác nhau.
Đó là lý do tiếng đàn bầu khác hẳn tiếng gảy dây thông thường. Nó mềm, có chút ma mị, như vọng từ xa. Nhiều nhạc công nói chạm đúng điểm và nhấc tay đúng lúc là kỹ thuật khó nhất của cây đàn, chỉ lệch một chút là tiếng đục ngay.
Cần đàn: thứ biến một dây thành giọng hát
Nếu chỉ có bồi âm, đàn bầu sẽ chơi được một số nốt rời. Thứ làm nên linh hồn của nó là cái vòi đàn ở tay trái.
Đẩy vòi về phía này, dây chùng lại, nốt hạ xuống. Kéo vòi về phía kia, dây căng thêm, nốt cao lên. Người chơi uốn vòi để lấp những nốt thiếu giữa các bồi âm, và quan trọng hơn, để luyến trượt từ nốt này sang nốt kia không đứt quãng.
Nhờ vậy đàn bầu làm được những ngón nhấn, ngón rung, ngón vuốt mà dân ca Việt cần, những nốt già nốt non nằm giữa các phím piano mà mình đã nhắc ở tập về ngũ cung. Tiếng đàn bầu vì thế rất gần với giọng hát tiếng Việt, có dấu có thanh.
Người ta hay nói đàn bầu nói được tiếng Việt. Đó là nói hình ảnh, nhưng ai từng nghe một câu ru được đàn bầu chơi lại sẽ hiểu ý câu đó.
Đàn bầu trong đời sống âm nhạc Việt
Trong lịch sử, đàn bầu gắn bó mật thiết với hát xẩm, lối hát rong của những nghệ nhân hát ở chợ, bến tàu. Tiếng đàn đệm cho giọng hát, nhại theo giọng hát, có khi đối đáp lại.
Ngày nay đàn bầu có mặt trong dàn nhạc dân tộc, độc tấu trên sân khấu, chơi cùng dàn nhạc giao hưởng và cả trong nhạc nhẹ. Nhiều nhạc sĩ đã viết những bản độc tấu dành riêng cho nó.
Có nhiều truyền thuyết dân gian về nguồn gốc cây đàn bầu, về những người mù hát rong hay những câu chuyện chia ly. Đó là truyền thuyết, chưa có bằng chứng lịch sử chắc chắn về thời điểm và nơi cây đàn ra đời.
Điều chắc chắn hơn là đàn bầu đã trở thành biểu tượng âm thanh của Việt Nam. Ở nhiều nơi trên thế giới, khi nghe tiếng đàn này, người ta nghĩ tới Việt Nam trước tiên.
Nghe đàn bầu thế nào cho thấm?
Lần tới nghe đàn bầu, đừng chỉ nghe giai điệu. Hãy chú ý những chỗ nốt không nhảy mà trượt, những chỗ một nốt dài được rung nhẹ như người hát rung giọng ở cuối câu.
So sánh một bản đàn bầu không cắm điện với một bản đàn bầu điện. Bản mộc nhỏ tiếng, gần gũi, nghe được cả tiếng que gảy. Bản điện vang, ngân dài, có khi được thêm tiếng vọng.
Nếu có dịp xem nhạc công chơi tận mắt, hãy nhìn vào tay phải. Bạn sẽ thấy cạnh bàn tay chạm vào dây và nhấc ra nhanh như chớp sau mỗi lần gảy.
Tập tiếp theo mình nói về một cây đàn nhiều dây hơn hẳn, đàn tranh, với những con nhạn đàn xếp thành hàng chéo như đàn chim bay.
Câu hỏi thường gặp
Người lớn học đàn bầu có khó không?
Đàn bầu được coi là khó ở giai đoạn đầu vì phải tập chạm bồi âm đúng điểm và uốn cần đúng cao độ bằng tai. Nhưng nhiều người lớn vẫn học được nếu kiên nhẫn và có thầy chỉnh tư thế tay phải ngay từ đầu.
Vì sao đàn bầu phải cắm điện mới to?
Vì bồi âm vốn nhỏ hơn âm gốc, và một sợi dây đơn đẩy được rất ít không khí. Đàn bầu mộc chỉ hợp chơi trong phòng nhỏ. Gắn bộ thu âm giúp nó đứng được cùng các nhạc cụ khác trên sân khấu.
Đàn bầu có giống đàn độc huyền của nước khác không?
Một số nền âm nhạc châu Á có nhạc cụ một dây, nhưng cách chơi bằng bồi âm kết hợp cần uốn của đàn bầu được coi là rất đặc trưng của Việt Nam.
Que gảy đàn bầu làm bằng gì?
Que gảy thường là một que nhỏ bằng tre, gỗ, sừng hoặc nhựa, dài cỡ một đốt tay. Người chơi kẹp que giữa các ngón và dùng phần đầu que gảy vào dây.
Trẻ con có nên học đàn bầu đầu tiên không?
Trẻ có thể học nếu thích tiếng đàn, nhưng vì kỹ thuật bồi âm khá tinh, nhiều thầy khuyên trẻ đã quen nghe nhạc và có độ khéo tay nhất định. Hỏi trực tiếp người dạy đàn bầu để được đánh giá theo con.