Ca trù là lối hát thính phòng cổ của miền Bắc với ba vai rõ ràng: đào nương vừa hát vừa gõ phách giữ nhịp, kép đàn chơi cây đàn đáy cổ dài, và người nghe sành gọi là quan viên ngồi đánh trống chầu để khen hay chê ngay giữa bài. Cái đặc biệt của ca trù nằm ở lối nhả chữ, ngân hơi rất riêng và cuộc đối thoại tinh tế giữa ba con người trên chiếu hát.
Chào bạn, đây là Nhà Âm Nhạc. Ca trù còn được gọi là hát ả đào hay hát cô đầu, từng là thú chơi của giới nho sĩ, và cũng từng trải qua những thăng trầm lớn. Tập này mình trải chiếu ngồi nghe một canh hát, để hiểu vì sao người mê ca trù nói nó là đỉnh cao của nghệ thuật thanh nhạc cổ Việt.
Ba người trên một chiếu hát
Một canh hát ca trù tối thiểu cần ba người. Đào nương là người hát, đồng thời tự gõ cỗ phách đặt trước mặt. Kép đàn là người đàn ông chơi đàn đáy, ngồi bên cạnh. Quan viên là người nghe, thường cũng là người am hiểu, cầm dùi đánh trống chầu.
Ba vai này không đứng tách nhau. Tiếng phách của đào nương là nhịp, tiếng đàn đáy là nền và lời đáp, tiếng trống chầu là lời bình. Cả ba cùng tạo nên bài hát.
Không gian ca trù truyền thống là một căn phòng nhỏ, người nghe ngồi gần, không có loa, không có sân khấu cao. Nó là âm nhạc để thưởng thức kỹ, từng chữ một, giống như nhâm nhi một chén trà.
Ca trù từng phổ biến ở nhiều tỉnh miền Bắc và Bắc Trung Bộ, có mặt cả trong sinh hoạt thờ cúng ở đình làng và trong những cuộc chơi của nho sĩ ở thành thị.
Cỗ phách và giọng hát của đào nương
Cỗ phách gồm một bàn phách nhỏ bằng gỗ hoặc tre và hai chiếc dùi, một dùi đơn, một dùi kép. Đào nương gõ phách với những tiết tấu phức tạp, có lúc dồn, có lúc thưa, có lúc gõ chéo nhịp với câu hát. Gõ phách giỏi là cả một kỹ năng riêng, học nhiều năm.
Giọng hát ca trù rất khác giọng hát phổ thông. Người hát dùng kỹ thuật nén hơi, phát âm gần cổ họng, tạo ra những tiếng ngân rung đặc trưng, có lúc như nghẹn lại, có lúc vang ra. Người nghe quen gọi đó là giọng có hơi, có nảy.
Lời ca trù phần nhiều là thơ, nhiều chữ Hán Việt, nên đào nương phải nhả chữ thật rõ. Cái hay là cùng một bài thơ, đào nương giỏi biết ngắt chữ, kéo chữ để làm nổi ý thơ.
Ngày xưa, các cô đào được học từ nhỏ trong những gia đình hay giáo phường có truyền thống, học hát, học phách cùng lúc, mất nhiều năm mới được ngồi chiếu chính thức.
Đàn đáy: cây đàn cổ dài không đáy
Đàn đáy là cây đàn chỉ dùng trong ca trù. Thân đàn hình thang, cần đàn rất dài, có ba dây và nhiều phím cao. Tên gọi đàn đáy thường được giải thích là đàn không đáy, vì mặt sau thùng đàn được để trống một phần.
Cần dài và phím cao cho phép kép đàn nhấn nhá, rung, luyến giống như đàn nguyệt mà mình đã kể. Tiếng đàn đáy trầm, đục, đượm, đi rất sát với giọng hát.
Kép đàn không đệm theo kiểu nhạc phương Tây. Họ dạo đầu, đi theo và đối đáp với giọng hát, lấp những chỗ ngừng, và có những tiếng đàn chỉ để gợi ý cho đào nương vào câu. Kép đàn giỏi là người nghe được hơi thở của người hát.
Người ta thường ví ba nhạc cụ trong ca trù như ba người bạn: phách là nhịp tim, đàn đáy là người đồng hành, trống chầu là tri âm.
Trống chầu: người nghe cũng là người diễn
Điều độc đáo bậc nhất của ca trù là người nghe có tiếng nói ngay trong bài hát. Quan viên cầm dùi gõ vào mặt hoặc tang của chiếc trống chầu nhỏ, mỗi kiểu gõ mang một nghĩa.
Có những tiếng trống để khen khi đào nương hát một chữ hay, nhả một hơi đẹp, những tiếng để điểm câu, đánh dấu chỗ kết, và cả những tiếng để chê khi hát hỏng. Người cầm chầu phải am hiểu sâu mới đánh đúng chỗ, đánh sai bị coi là thiếu hiểu biết.
Vì vậy ca trù đòi hỏi cả người nghe phải học. Thưởng thức không phải là thụ động, mà là tham gia. Đây cũng là lý do ca trù được coi là thú chơi của những người sành.
Ngày nay, trong các buổi diễn cho khán giả rộng rãi, thường có một người am hiểu cầm chầu thay cho khán giả.
Hát nói, thăng trầm và bảo tồn
Ca trù có nhiều thể cách, trong đó nổi tiếng nhất là hát nói, một thể thơ có cấu trúc riêng mà nhiều nhà nho tài danh đã sáng tác, như Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Dương Khuê, rồi Tản Đà. Đọc lời hát nói là đọc cả một dòng văn học.
Ca trù trải qua những giai đoạn bị hiểu lầm, bị gắn với chốn ăn chơi, và có thời gian dài gần như vắng bóng. Nhiều nghệ nhân lớn tuổi giữ nghề trong im lặng.
Năm hai nghìn không trăm linh chín, ca trù được UNESCO ghi vào danh sách di sản văn hoá phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp. Chữ khẩn cấp cho thấy di sản đang trong tình trạng rất mong manh.
Từ đó nhiều câu lạc bộ, giáo phường ca trù được khôi phục ở các địa phương, các nghệ nhân truyền dạy cho lớp trẻ. Nghe một buổi ca trù hôm nay chính là góp phần giữ nó. Tập sau mình về Kinh Bắc với quan họ.
Câu hỏi thường gặp
Ca trù và quan họ khác nhau thế nào?
Ca trù là hát thính phòng có nhạc cụ đệm với ba vai rõ ràng, lời thường là thơ bác học. Quan họ là dân ca hát đối giữa nam và nữ, thường hát mộc không có nhạc cụ, lời mang tính dân gian và giao duyên.
Người mới nghe ca trù nên bắt đầu thế nào?
Nên nghe trực tiếp một buổi nếu có thể, vì ca trù cần không gian gần. Đọc trước lời bài hát, nhất là các bài hát nói, sẽ giúp hiểu ý. Lúc đầu có thể thấy giọng hát lạ tai, nghe vài lần sẽ quen.
Ca trù có phải chỉ phụ nữ hát?
Theo truyền thống, người hát là đào nương, tức nữ giới. Nam giới đảm nhiệm vai kép đàn và quan viên. Ngày nay một số câu lạc bộ có những cách thể hiện linh hoạt hơn.
Vì sao ca trù từng bị mai một?
Do thay đổi xã hội, ca trù mất đi môi trường sinh hoạt truyền thống và có thời bị hiểu lầm là loại hình không lành mạnh. Nhiều nghệ nhân ngừng hát, việc truyền nghề bị đứt quãng.
Học ca trù mất bao lâu?
Học hát và gõ phách ca trù cho đúng lối truyền thống thường mất nhiều năm với nghệ nhân. Kỹ thuật hơi và nhả chữ rất đặc thù, cần được nghe và sửa trực tiếp.